cover225x225

CHƯƠNG 9: CA-IN và A-BÊN

 

Chào các bạn, tối nay các bạn như thế nào? Tôi cảm ơn Chúa đã cho phép chúng tôi tổ chức buổi nhóm truyền giảng đáng ngạc nhiên này một cách đột xuất. Tôi cùng với mục sư Woo xin cảm ơn trường nữ sinh cấp 3 Jezebel đã chuẩn bị cho chúng ta một hội trường đáng quý này. Vì buổi nhóm truyền giảng của chúng ta rất đặc biệt và mọi người bị giữ lại để nghe mãi cho đến sau 11 giờ khuya họ mới được về nhà, người lớn tuổi mà trông coi ngôi nhà này chắc là mệt lắm. Tôi xin gởi những lời cảm ơn chân thành đến ông vì đã giúp đỡ chúng ta.
Tôi cũng cảm ơn các bạn đã không than phiền về thời gian quá dài. Đã không có ai trong các bạn đứng dậy đi vệ sinh mà cứ ngồi yên lặng nghe giảng. Hơn nữa, tôi xin cám ơn những mục sư đã chủ quản cho buổi nhóm này, và đặc biệt tôi muốn cảm tạ và ngợi khen Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta ân-điển quý báu để nhiều người được sanh lại trong Tin-lành.
Đây là bài giảng cuối cùng của chúng ta. Tôi xin đọc Kinh Thánh Sáng-thế ký đoạn 4 từ câu 1. Nếu các bạn đã tìm xong, tôi xin đọc.

“A-đam ăn ở với Ê-va, là vợ mình; người thọ thai sanh Ca-in và nói rằng: Nhờ Đức Giê-hô-va giúp đỡ, tôi mới sanh được một người. Ê-va lại sanh em Ca-in, là A-bên; A-bên làm nghề chăn chiên, còn Ca-in thì nghề làm ruộng. Vả, cách ít lâu, Ca-in dùng thổ sản làm của lễ dâng cho Đức Giê-hô-va. A-bên cũng dâng chiên đầu lòng trong bầy mình cùng mỡ nó. Đức Giê-hô-va đoái xem A-bên và nhận lễ vật của người; nhưng chẳng đoái đến Ca-in và cũng chẳng nhận lễ vật của người; cho nên Ca-in giận lắm mà gằm nét mặt. Đức Giê hô-va phán hỏi Ca-in rằng: Cớ sao ngươi giận, và cớ sao nét mặt ngươi gằm xuống? Nếu ngươi làm lành, há chẳng ngước mặt lên sao? Còn như chẳng làm lành, thì tội-lỗi rình đợi trước cửa, thèm ngươi lắm; nhưng ngươi phải quản trị nó.” (Sáng-thế ký 4:1-7)

Tôi đã đọc đến câu 7. Có nhiều điều tôi muốn nói với các bạn tối nay, trong lần gặp gỡ cuối cùng này mà tôi lại không biết bắt đầu nói từ đâu. Sáng sớm mai, tôi sẽ lên xe lửa trở về Seoul. Tôi không nghĩ là lòng tôi có thể rời Busan một cách dễ dàng.
Khuya hôm qua, tôi đã lên lầu 3 và nói chuyện với vài anh em và chị em mà đã nhận được sự tha-thứ tội-lỗi qua lần nhóm truyền giảng này. Những người đã đi nhà thờ một thời gian dài nhưng vẫn đau khổ và một mình vật lộn với tội-lỗi đã tham dự lần nhóm này và đã nhận được sự tha-thứ tội-lỗi. Khi tôi nghe họ làm chứng rằng họ đã tiếp nhận Chúa vào lòng mình như thế nào thì tôi không thể dùng lời nói gì để diễn tả cảm xúc trong lòng của mình. Tối qua, tôi đã nghe làm chứng của bốn người. Tôi biết không phải chỉ có bốn người mới có làm chứng như vậy. Vì Đức Chúa Trời yêu mến các bạn nên ban ơn để tổ chức buổi nhóm này để làm lòng của các bạn được buông tha khỏi tội-lỗi.
Tối nay, tôi muốn làm chứng cho các bạn nghe về cha tôi đã tin Chúa Jêsus như thế nào. Mẹ tôi đã qua đời vào ngày 14 tháng 8 năm 1950, ngay sau khi bắt đầu chiến tranh Hàn Quốc. Chúng tôi có năm anh chị em và cha tôi yêu thương chúng tôi rất nhiều. Cha tôi có thể tái hôn vì ông còn trẻ và đã có những tin đồn về ý định đó. Vì thuở bé, ông đã thấy một người bạn rất bị đau khổ khi sống với người mẹ kế. Do đó, ông đã quyết định không tái hôn và nuôi năm đứa con của mình trong khó khăn.
Bây giờ, tất cả chúng tôi đều đã lớn khôn, đã lập gia đình và có gia đình riêng. Khi tôi dẫn dắt một Hội-Thánh nhỏ thì cha tôi có đến thăm chúng tôi. Cha tôi cần phải tin Chúa Jêsus, nhận được sự tha-thứ tội-lỗi và được lên Thiên-đàng nhưng ông đã từ chối nghe Ngôi-lời. Nên trong lòng vợ chồng chúng tôi không có bình an. Cha tôi sống ở quê, ông hay mang cho chúng tôi một bao gạo và đôi khi ông mang tiền cho chúng tôi vì cuộc sống của chúng tôi rất nghèo khổ. Bất cứ khi nào có thể thì tôi và vợ tôi đều nói cho cha tôi tin Chúa Jêsus. Cha tôi nói: “Các con à, đừng như thế. Cha tin Chúa Jêsus mà. Các con tin Chúa Jêsus. Tại sao cha không tin Chúa Jêsus? Thế nhưng cha sẽ tin bắt đầu từ mùa thu này.”
Đó là cách cha tôi trả lời. Cha tôi có nhiều bạn bè ở quê nhà. Khi các bạn của ông tổ chức tiệc mừng thọ và làm mai mối con dâu thì ông đi dự tiệc, ngồi uống rượu và nói chuyện vui vẻ với nhau. Cha tôi thích như vậy lắm. Mùa thu này, một người bạn của ông sẽ tổ chức tiệc mừng thọ mà nếu ông không uống rượu tại buổi tiệc vì đã tin Chúa Jêsus thì đối với các bạn ông không có lịch sự. Do đó, qua mùa thu thì ông mới tin Chúa Jêsus. Tôi không thể la lớn tiếng với cha rằng: “Không tin Chúa Jêsus thì không được.” Tôi chỉ biết chờ đợi mà thôi. Mùa thu đã trôi qua và mùa đông đã đến.
“Cha ơi, bây giờ xin hãy tin Chúa Jêsus đi.”
“Chắc chắn cha sẽ tin vào mùa xuân năm tới.”
“Ôi, bây giờ đi! Tại sao vậy?”
“Con trai của bạn cha sẽ lập gia đình vào mùa xuân và cha không thể không tham dự. Sau khi con trai của bạn cha lập gia đình, cha sẽ tin Chúa Jêsus.”
Đó là cách mà ông đã kéo dài như vậy. Rốt cuộc, 10 năm đã trôi qua. Cha tôi đã già đi. Ông đang sống với người anh cả của tôi. Ngày kia, anh cả tôi đã sang Nhật Bản để kinh doanh. Mặc dù không thoải mái nhưng cha tôi phải ở nhà của chúng tôi. Lúc đó, ông đã gặp một sự việc tồi tệ về căn bệnh loét dạ dày và mặc dù ông không đi khám bệnh chi tiết nhưng ông đã được chẩn đoán là có một cái gì đó giống như ung nhọt. Bác sĩ đảm nhiệm không đề nghị phẫu thuật. Vì cha tôi đã quá 70 tuổi rồi, bác sĩ nói chúng tôi nên tránh việc phẫu thuật và nên tìm một cách khác để điều trị cho ông. Tôi biết rằng cha tôi không thể sống lâu.
Nếu là một mục sư mà tôi không thể dẫn dắt người cha của riêng mình lên Thiên-đàng thì tôi có thể đi đâu và làm sao tôi có thể nói mạnh mẽ cho ai rằng hãy tin Chúa Jêsus? Suy nghĩ đó đã đến trong lòng tôi và lòng tôi cảm thấy nôn nao. Một ngày kia, sau khi tôi đã cầu nguyện rồi tôi đến với cha.
“Cha ơi!” Tôi nói. “Hãy tin Chúa Jêsus.”
“Cha tin. Đừng lo, cha tin mà.”
Đó là những gì mà ông luôn nói, nhưng ngày kia tôi không muốn đi ra khỏi cha một cách tự nhiên như những lần trước.
“Cha ơi, cha không thể cứ tiếp tục như thế này. Đời sống của chúng ta thật hư không.” Tôi sắp sửa chuẩn bị nói thì cha tôi đã trở nên giận dữ.
“Con, Ock Soo, con dám nói chuyện với cha kiểu đó à!”
Trước đây tôi chưa bao giờ thấy cha giận dữ với tôi như vậy cả. Lại một lần Satan cứ chống đối cách rất mạnh mẽ khi Tin-lành của sự sống đang sắp sửa đến lòng của một người. Nó luôn như vậy đối với mọi người. Khi tôi dẫn dắt nhóm truyền-giảng thì có những người rất ghét mục sư Park mà không có lý do rõ ràng. Lời Chúa rất đúng nhưng họ lại cảm thấy bất an. Có rất nhiều người giống như vậy. Tại sao vậy? Rồi một ngày kia, tôi đã thấy lòng của họ sụp đổ trước lời Chúa và nhiều người đã được tái -sanh. Satan luôn chống đối khi người ta nghe Tin-lành và được tái-sanh. Dẫu sao thì một ngày kia, cha tôi trở nên giận dữ vô cùng nên tôi không thể nói thêm điều gì cho ông nữa. Tôi phải bỏ đi ra ngoài. Tôi quá đau khổ và lo lắng đến nỗi không chịu đựng được.
Trong thời gian đóù, ở Daegu, cứ mỗi chiều thứ hai các Mục sư và những thầy truyền đạo đã đến nhà tôi và tôi đã dạy Kinh Thánh cho họ. Ngày đó là ngày thứ hai, có rất nhiều Mục sư đã đến nhà tôi. Khi tôi đi ra khỏi phòng của cha tôi mà thấy không có sức thì họ hỏi:
“Ồ, mục sư Park, mục sư không khỏe à? Có chuyện gì không hay đã xảy ra vậy?” Họ đang lo lắng cho tôi.
“Ồ, không có gì đâu. Bác sĩ nói cha tôi không còn sống lâu nữa. Tôi mời cha tin Chúa Jêsus nên ông đã la mắng tôi. Tôi thật rất ghét Satan, nó đã nắm giữ lòng của cha tôi.”
“Mục sư Park à, chúng ta nên làm gì đây?” Các mục sư hỏi.
“Hãy cùng nhau cầu nguyện.”
Buổi chiều đó, chúng tôi không học Kinh Thánh mà khoảng 10 mục sư và các thầy đã họp lại và cầu nguyện cho cha tôi. Ngày hôm sau, cũng vào giờ ngày hôm qua chúng tôi đã cầu nguyện, khi đó cha tôi gọi gấp.
“Này, Ock Soo có đó không?”
“Vâng, thưa cha, con ở ngay đây.”
“ Hãy vào đây.”
“Bụng cha đang đau và mặc dù cha muốn đi vệ sinh nhưng không thể đi cầu được. Con có viên thuốc nào không?”
Tôi bảo vợ tôi đi đến tiệm thuốc mua một viên thuốc. Vợ tôi sắp sửa đi ra ngoài thì bỗng nhiên cha tôi ngồi thẳng lưng rồi ho ra máu. Máu đã chảy trong ruột ông và máu đen tích tụ đã được đi ra ngoài. Chúng tôi rất kinh ngạc. “Ôi, bây giờ cha sắp sửa ra đi rồi” tôi suy nghĩ. Vợ tôi đang khóc và không biết làm gì. Cha tôi đã ngậm miệng lại và rất yên lặng. Tôi đoán ông đang cảm thấy rằng: “À, bây giờ tôi sẽ chết.” Chúng tôi lấy khăn lau sạch máu rồi đặt cha xuống tấm chăn mát.
“Cha ơi, cha cảm thấy như thế nào?” Tôi hỏi.
“Cha không sao.”
“Em ơi, lấy cho anh một cái máy thâu băng.” Tôi nói với vợ tôi.
“Cha ơi, anh cả không có ở đây, nên nếu có điều gì muốn nói, thì xin cha hãy nói tự nhiên. Chúng con sẽ thâu băng lại.”
“Ồ, vậy con lấy máy đi?”
“Vâng.”
“Tốt. Có một vài điều mà cha muốn nói. Bây giờ hãy để cha nói trước khi cha chết.”
Cuốn băng đó mỗi mặt là 30 phút và cha tôi đã nói trong một tiếng đồng hồ. Cha xin lỗi tất cả các con về điều này. Cha đã buồn các con về điều này điều kia. Và sau đó, ông nói khi cha chết, các con phân chia tài sản mà không có bao nhiêu thì đừng có cãi lộn với nhau. Và cuối cùng khi cha chết, lúc đám tang, con hãy chôn cất cha gần nơi mẹ con. Có một người sẽ liệm và rửa xác cha. Khi sống cha đã giúp đỡ cho ông ta rất nhiều nên con hãy nhờ ông ấy liệm và rửa xác cha. Ông ta sẽ không nói là không thích hay không muốn đâu.
Cha đã nói mọi điều trong lòng mình về đám tang. Khi cuốn băng sắp hết, ông cũng vừa nói xong ý muốn mình thì tôi hỏi ông:
“Cha ơi, khi cha đã ra đi, chúng con sẽ làm đám tang cho cha đúng như lời cha đã nói, không bỏ một điều. Xác thịt cha, chúng con sẽ làm theo như lời cha đã nói, nhưng còn linh hồn cha sẽ đi đâu?”
“Cha muốn lên Thiên-đàng, nhưng cha có công lao gì? Điều xứng đáng gì mà cha có? Bây giờ đã quá trễ cho cha.”
Lúc đó, tôi thật cảm tạ về sự cứu rỗi mà chúng ta nhận được không phải bởi việc làm của con người, công lao của con người, mà là bởi công lao của Chúa Jêsus. Tôi chưa bao giờ cảm nhận được như vậy. Tôi cũng cảm ơn Chúa vì tôi là một mục sư mà đã có thể giải thích rõ ràng cho bất kì ai về việc nhận được sự tha-thứ tội-lỗi và lên Thiên-đàng. Ngày đó, tôi đã nói cho cha tôi rằng Thiên-đàng không phải là nơi mà chúng ta có thể lên bởi việc làm của chúng ta.
Mặc dù Đức Chúa Trời đã nói với chúng ta rằng hãy lên Thiên-đàng nhưng mà sức-lực của con người thì thiếu-thốn và yếu-đuối nên con người cố gắng, nỗ lực thì chỉ có mệt-mỏi và vấp ngã mà thôi. Do đó, tôi đã nói cho ông rằng Chúa Jêsus đã đến và đã làm thế mọi việc cho chúng ta. Trong hai tiếng đồng hồ tôi đã nói cho ông rằng chúng ta có thể lên Thiên-đàng qua công lao của Chúa Jêsus. Tôi đã nói cho ông làm thế nào mà tội-lỗi của chúng ta đã chuyển qua cho Chúa Jêsus, làm sao mà dòng huyết quý báu trên thập tự giá của Chúa Jêsus đã rửa sạch tội-lỗi chúng ta và làm thế nào chúng ta nhận được sự cứu rỗi. Cha đã tỏ ra lòng thật của mình. Trước đó, ông chỉ nói: “Các con à, ở đằng kia có thuốc kìa, ở đằng nọ có bác sĩ giỏi kìa. Cha tôi chỉ có lòng như vậy mà thôi. Rồi ông luôn dạy chúng tôi mà rằng: Tại sao các con ngu thế? Đây là cách các con cần làm.”
Cha của tôi đã nuôi dưỡng bao nhiêu ham mê, dục vọng mà khi suy nghĩ về chính mình khi đứng trước sự chết thì bao nhiêu dục vọng đó đã bị sụp đổ. Cha tôi chưa bao giờ đến nhà thờ. Con trai ông là một mục sư và nhà tôi là một nhà thờ nhỏ nên ông đi đến nhà thờ như vậy. Cha tôi chưa một lần tự đến nhà thờ. Nhưng ngày đó, cha tôi đã từ bỏ đi mọi dục vọng và nghi ngờ mà đã bao bọc trong lòng ông, để nghe lời Chúa với một lòng đơn sơ. Sau vài tiếng đồng hồ, nét mặt của cha tôi đã bắt đầu thay đổi.
“Cha tin. Cha tin lắm!” Cha tôi nói trệu trạo. “Chúa Jêsus ơi. Cám ơn Ngài. Thập tự giá, thập tự giá. Chúa Jêsus, cám ơn Ngài đã gánh mọi tội-lỗi con và giải quyết ở trên thập tự giá. Một lát nữa, con sẽ đi đến nước của Ngài. Cha ơi, xin chấp nhận con.”
Lúc đó, các anh chị em đã đến vì họ biết cha tôi sắp qua đời. Và cha tôi đã nhắm mắt lại bắt đầu cầu nguyện thì mắt họ đã đẫm đầy nước mắt. Dường như là cha tôi không thể sống lâu hơn nên chúng tôi đã gọi xe cấp cứu và đưa ông về quê nhà. Ông đã thức dậy sáng hôm sau và nói: “Các con à, hôm qua cha đã ngủ một cách rất bình yên. Sao các con không hát cho cha nghe những bài Thánh Ca? Hãy cầu nguyện và hát những bài Thánh Ca cho cha nghe.”
Lòng của cha tôi đã thay đổi hoàn toàn. Bất cứ ai mà mở lòng mình ra và chấp nhận Tin-lành về sự tha-thứ tội-lỗi rõ ràng thì đều có thể nhận được sự tha-thứ tội-lỗi và được tái-sanh. Thế nhưng, thật đáng tiếc là hầu hết mọi người hôm nay không nghe rõ-ràng về cách-thức này. Mặc dầu trở về quê nhưng dường như cha tôi đã được khỏe hơn nên tôi quay lại Daegu. Còn vợ tôi ở lại để chăm sóc ông. Và một ngày kia, vợ tôi gọi điện thoại bảo tôi về gấp. Tôi đã cố hết sức đi gấp. Tôi thấy hình như cha tôi đang hấp hối và chỉ còn vài giờ nữa là cha tôi sẽ chết. Nhiều người đã ở đó và cha bảo tôi hãy đưa tất cả những bạn bè của ông đến cùng. Những bạn của ông đã đến. Họ nắm tay ông và khóc trong niềm thương tiếc. Ông nói:
“Tôi sẽ đi lên Thiên-đàng vì Chúa Jêsus mà con trai thứ hai của tôi, Ock Soo, đang tin. Tôi đi trước và tôi sẽ giữ một vài chỗ cho các anh, vì thế các anh hãy tin Chúa Jêsus mà Ock Soo đang tin. Ngài sẽ gọi các anh về và các anh sẽ đi theo sau.” Sau đó ông đã gọi các anh em họ tôi lên và nói:
“Các cháu hãy lắng nghe. Cổ họng của chú thì khô và chú đang rất mệt. Chú nói rất khó, nhưng bởi vì các cháu là các cháu trai của chú, nên chú mới nói với các cháu. Khi cha của cháu chết, ông đã chết giống như vầy. Đây là cách chú của cháu chết. Các cháu muốn chết như thế nào khi các cháu chết? Hãy tin Chúa Jêsus mà Ock Soo đang tin. Không phải tin Chúa Jêsus thì cuộc sống của mình sẽ trở nên giàu có, cũng không phải tin Chúa Jêsus thì cuộc sống mình sẽ trở nên nghèo khổ. Đừng chỉ luôn suy nghĩ về tiền bạc, nhưng hãy tin Chúa Jêsus.”
Ông nói xong những lời đó thì ngủ. Ông đã ngáy lớn và sáng hôm sau, trong giấc ngủ ông đã được Đức Chúa Trời kêu gọi đi lên nước Thiên-đàng đời đời. Vào ngày đám tang, tôi đã mặc áo tang, đi ra ngoài sân sau quỳ xuống và cầu nguyện một cách xúc động. Những giọt nước mắt đã chảy từ mắt tôi có hai ý nghĩa.
Một ý nghĩa là tôi đã là một con trai bất hiếu đối với cha mình. Sau khi mẹ qua đời sớm, thì ông đã một mình nuôi năm đứa con, ông đã quên mình hy sinh cho các con. Tôi đã muốn phụng dưỡng cha bằng cách làm tròn đạo làm con của mình nhưng ông đã ra đi trong khi tôi còn đang ở trong sự gian khổ. Tôi đã khóc những giọt nước mắt tạ lỗi vì đã không làm một con trai hiếu thảo. Ý nghĩa khác là cảm ơn Đức Chúa Trời đã cứu cha tôi. Thưa các bạn, cha tôi chưa bao giờ đi nhà thờ và ông chưa một lần đọc Kinh Thánh, nhưng ông đã thay đổi sau khi nghe Tin-lành thì lòng tôi thật cảm tạ Chúa. Tôi thường suy nghĩ về cha tôi.
“Cha ơi, con sẽ sớm đến nơi cha ở. Đức Chúa Trời ơi, cảm ơn Ngài đã cứu cha con.”
Thưa các bạn, tại sao có quá nhiều người không biết về Tin-lành? Có những mục sư nổi tiếng, những người dẫn dắt tôn giáo tài giỏi và có nhiều nhà thần học nổi tiếng. Họ có nhiều kiến-thức, họ giúp đỡ người nghèo rất tốt, tự-nguyện dâng hiến và làm chứng. Tuy nhiên, điều này rất là nòng cốt, họ chỉ biết bên ngoài: “Tội-lỗi của tôi đã được rửa sạch bởi huyết của Chúa Jêsus Christ” nhưng thực tế, nhiều người trong số họ đã không nhận được sự buông-tha khỏi tội-lỗi. Đức Chúa Trời khó chịu biết bao khi một người không xứng đáng như tôi mà lại đang đứng đây để giảng lời Chúa sao?
Khi lần này tôi đến và thấy Busan, Busan không phải là một trường hợp ngoại lệ. Nó giống như những thành phố khác. Tôi đã gặp nhiều người ở đây, những ngườụi luôn bị đau khổ, đi lên núi cầu nguyện, bị dằn vặt và làm đủ mọi việc lạ lùng. Nhưng họ cứ tiếp tục đau-khổ trong tội-lỗi vì họ không biết làm sao để tội-lỗi của họ được rửa sạch một cách rõ-ràng qua Tin-lành.
Tôi muốn nói với những mục sư ở nơi đây. Các bạn làm chứng điều gì trên bục giảng? Dù các bạn nói rằng bài giảng của các bạn làm xúc-động lòng người nhưng nếu các bạn không thể cứu một linh hồn ra khỏi lương-tâm mình thì bài giảng đó không hề liên quan đến Đức Chúa Trời mà giảng. Trong số các bạn có những người là mục sư. Nếu các bạn giảng không đúng lời của Đức Chúa Trời cho những linh hồn mà đến với các bạn, và họ không nhận được sự giải-thoát khỏi tội-lỗi thì linh hồn của họ sẽ như thế nào?
Các bạn sẽ chịu trách nhiệm về những linh hồn đó như thế nào trước mặt Đức Chúa Trời? Tôi mong muốn rằng những mục sư đã có mặt tối nay hãy lắng nghe điều này. Các bạn cần phải giảng về dòng huyết trên thập tự giá của Đức Chúa Jêsus Christ. Dòng huyết đó có thể chảy vào trong lòng của chúng ta và rửa sạch tội-lỗi chúng ta. Đừng chỉ giảng điều này bằng lý thuyết. Các bạn phải làm cho những linh hồn được buông-tha khỏi tội-lỗi. Lý thuyết về thần học mà các bạn đã được học không thể cứu những linh hồn. Những nổ lực mà các bạn đã sắp đặt những thành viên làm trong nhà thờ không thể dẫn họ đến sự cứu-rỗi. Họ phải được tái sanh bởi dòng huyết quý báu của Chúa Jêsus Christ mà đã nói trong Ngôi-lời của Đức Chúa Trời.
Những mục sư, những người truyền đạo và nếu có những người mà đang học thần học để trở thành những người truyền đạo có mặt ở đây tối nay tôi muốn các bạn hãy lắng nghe. Các bạn phải có trách nhiệm về những con chiên. Các bạn phải biết làm chứng cho những con chiên điều gì. Mặc dù các bạn là mục sư nhưng cũng có thể các bạn chưa được sanh-lại. Nếu đó là trường hợp của các bạn thì tối nay, các bạn phải đặt sang một bên thể diện của mình và nói rằng: “Con là tội-nhân. Con biết Tin-lành chỉ là lý thuyết nên con vẫn là một tội-nhân. Do đó, con hoàn toàn không thể làm chứng cho những linh hồn khác để được buông-tha khỏi tội-lỗi, bởi vì con, chính con, chưa được giải thoát khỏi tội-lỗi. Xin hãy cứu con.”
Nhiều tôi tớ mạnh mẽ của Đức Chúa Trời đã làm điều này trong suốt lịch sử. Martin Luther đã làm điều này, và John Wesley cũng làm như vậy. Họ là những tôi tớ nổi tiếng của Đức Chúa Trời, nhưng ở một thời điểm nọ, họ mới phát hiện ra mình chưa được giải-thoát khỏi tội-lỗi. Họ đã biết bằng đầu óc rằng Chúa Jêsus đã rửa sạch tội-lỗi của họ trên thập tự giá nhưng họ đã nhận ra lòng họ chưa được giải thoát-khỏi tội-lỗi. Vì thế lòng họ đã tan vỡ và sụp đổ. Sau khi họ được sanh lại thì họ đã làm giáo sĩ một cách mạnh mẽ. Họ có thể dẫn dắt mà không phải dùng cách con người. Chúng tôi biết rõ rằng quyền-năng Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời đã hành động trong chức vụ của họ.
Chiều nay, tôi đã đến Hội Thánh ở phía tây Busan để dự một buổi khai lễ. Vài chiếc xe hơi đã phải cùng đi chung đến đó. Vì tôi đã đến đó một lần rồi nên tôi đi trước dẫn đường. Tôi chỉ đường cho năm chiếc xe đang đi theo sau tôi và chúng tôi đã đến Hội Thánh ở phía tây Busan một cách an toàn. Vậy việc đó là như thế nào? Đó là bởi vì tôi đã đến đó trước một lần. Người mà đã có kinh nghiệm được tái-sanh thì mới có thể dạy và hướng dẫn những người khác để được tái-sanh.
Thưa các bạn, chức-vụ của chúng ta rất quan trọng. Nếu các bạn đã nhận được sự tha-thứ tội-lỗi thì tôi mong muốn rằng các bạn đừng chỉ là một người có tôn giáo và là một cơ đốc nhân mà thôi. Tôi rất mong muốn các bạn là một người đồng đi với Chúa Jêsus. Tôi đã từng đau đớn nhiều trong tội-lỗi nhưng năm 1962, sau ngày tôi được giải-thoát khỏi tội-lỗi, tôi không còn thấy công việc nào có ý nghĩa hơn nữa. Làm sao tôi có thể làm chứng về Tin-lành quý báu này chỉ cho một linh hồn thôi? Tôi chỉ có lòng như vậy và thật lạ-lùng khi Đức Chúa Trời đã mở ra một con đường trước cho tôi và tôi đã có thể làm công việc quý báu này. Không chỉ với cha tôi nhưng sau này tôi đã rao giảng Tin-lành thì có nhiều người hiểu rõ và nhận được sự tha-thứ tội-lỗi. Tôi cũng thấy người ta đã thay đổi sau khi nhận được sự tha-thứ tội-lỗi. Halelugia! Đây là một món quà mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta một cách nhưng không.
Đôi khi tôi nói về sự tha-thứ thì tôi hay nói về nhiều điều khác mà không có trong đoạn Kinh Thánh đã đọc. Rồi sau đó tôi mới nhớ đến Kinh Thánh mà tôi đã đọc. Bây giờ chúng ta cùng nói về Sáng-thế ký đoạn 4. Bình thường, sau một buổi lễ thì người ta hay lăng xăng đi về nhà nhưng trong suốt buổi nhóm này, tôi thấy nhiều người đã muốn tìm kiếm lời Chúa thì vẫn ở lại để nghe. Khi tôi thấy vậy thì tôi suy nghĩ trong lòng chắc Đức Chúa Trời vui lòng về họ lắm. Cuốn họng tôi thường không tốt sau khi giảng. Có người muốn gặp riêng tôi mà tôi đã xin lỗi là tôi không có đủ thời gian để nói chuyện riêng với tất cả các bạn. Một số người đã đến nói với tôi nhưng tôi rất tiếc là phải giới thiệu các bạn cho những người khác để chia sẻ. Mặc dù vậy, khi tôi thấy họ nhận được sự tha-thứ tội-lỗi và bày tỏ niềm vui thì tôi rất cảm ơn. Nếu lần này các bạn đã thật sự nhận được sự tha-thứ tội-lỗi thì tôi mong muốn rằng không chỉ mục sư Park mà các bạn nên làm chứng điều này vì đó mà các bạn sẽ không chỉ là một người có đạo nhưng là một người rao giảng thật mà cũng sẽ sanh ra những cơ đốc nhân được tái-sanh.
Trong Sáng-thế ký đoạn 4 nói về Ca-in và A-bên. Tất cả chúng ta đều biết rõ câu chuyện này. Tôi chắc rằng các bạn đã nghe giảng về nó một vài lần rồi. Con trai lớn của A-đam là Ca-in rất khỏe mạnh, tôi nghĩ anh ta rất giỏi nhiều điều. Sau khi A-đam đã sanh Ca-in, A-đam nói tốt quá, Chúa đã ban cho tôi một con trai và ông đã rất hãnh diện. Sau khi sanh A-bên, tôi suy nghĩ A-đam đã thất vọng. Bởi vì từ “A-bên” nghĩa là rễ cây, “Hebel” là hơi thở. Vào một buổi sáng mùa đông lạnh giá nếu các bạn nói “Hooo… ” các bạn sẽ thấy hơi thở mình ra ngoài miệng, đúng không? Ý nghĩa là một điều mà biến mất, hư không giống như hơi thở. Do đó, tên của A-bên ý nghĩa là hư không.
Ngày xưa ở Hàn Quốc, khi trẻ em mới sanh ra, người ta không khai ngày sinh ngay được. Chỉ sau 100 ngày hoặc một năm trôi qua và đôi khi thậm chí sau vài năm họ mới khai ngày sanh. Trong những ngày đó, việc chăm sóc sức khỏe không tốt cho nên tỉ lệ tử vong của trẻ em rất cao. Vì thế họ khai sinh con mình trong hộ khẩu rất chậm trễ bởi vì họ không biết là con mình sẽ sống hay chết mà chết thì nhìn vào hộ khẩu họ sẽ rất đau buồn. Thực tế một số trẻ đã 10 tuổi nhưng theo hộ khẩu gia đình thì chúng chỉ có 6 tuổi. Khi chúng tôi lớn lên đã có nhiều trường hợp giống như vậy. Tất nhiên, hiện nay đã không còn như vậy nữa nhưng tôi chắc rằng những người cùng tuổi tôi có thể già hơn tôi là điều dễ hiểu.
Sau khi A-đam đã sanh A-bên, tôi nghĩ ông ta chắc hẳn đã có suy nghĩ: “Hưm, nó có lớn đến khi trưởng thành không nhỉ?” A-đam không chắc liệu A-bên có sống không vì thế ông đã đặt tên cho A-bên là hư không. Thật sự hư không. Thật hư không. Có lẽ ông ta đã nói như vậy và đó là lí do ông đã gọi con trai thứ hai mình là A-bên, A-bên. Ông đã so sánh với Ca-in là đứa mà khỏe khoắn và mạnh mẽ, A-bên chắc hẳn là rất yếu. Điều này không có nói trong Kinh Thánh nhưng tôi suy nghĩ điều đó có thể là như vậy. Bởi vì Ca-in rất khỏe, anh đã làm việc đào đất khó khăn chỉ bằng những cây gậy, cày xới đất và gieo giống. A-bên thì rất ốm, anh ta chăn vài con chiên ở gần nhà và cho chúng ăn cỏ. Tôi nghĩ anh ta thích ngồi nơi nắng ấm và khi trời tối anh ta sẽ dẫn đàn chiên về nhà. Đó là lí do tên anh ta có nghĩa là sự trống không. Điều đó nghĩa là anh sẽ chết sớm. Nhưng anh đã không chết. Anh đã sống. Ca-in đã lớn lên, A-bên cũng đã lớn lên.
“Cách ít lâu, Ca-in dùng thổ sản làm của lễ dâng cho Đức Giê-hô-va, còn A-bên cũng dâng chiên đầu lòng trong bầy mình cùng mỡ nó. Đức Giê-hô-va đoái xem A-bên và nhận lễ vật của người, nhưng chẳng đoái đến Ca-in và cũng chẳng nhận lễ vật của người.”
Sau khi đọc câu chuyện đó, lòng tôi suy nghĩ: “Ôi! tại sao Đức Chúa Trời làm như vậy?” Mặc dù Ca-in đã sai lầm khi dâng của lễ cho Đức Giê-hô-va, nhưng nếu tôi là Đức Chúa Trời thì tôi không làm như vậy.
“Này, Cain, hãy lại đây.”
“Dạ, thưa Đức Chúa Trời, có chuyện gì vậy?”
“Ngươi không có gì tốt à? Đó là loại của lễ gì vậy? Ngươi xem đây là một của lễ sao? Được rồi, đây là lần đầu tiên nên ta để ngươi đi nhưng nếu lần sau ngươi dâng cho ta một lễ vật giống như vầy ta sẽ không nhận đâu. Lần sau hãy làm một lễ vật tốt hơn.”
Nhưng tôi đọc ở Kinh Thánh Cựu-ước thì thấy Đức Chúa Trời rất lạnh lùng. Ngài đã ngoảnh mặt khỏi lễ vật đó, thậm chí không thèm nhìn nó nên Ca-in rất giận dữ. Thưa các bạn, hầu hết mọi người sống trong tín ngưỡng hay nghĩ rằng lòng của Đức Chúa Trời giống như lòng của mình. Trong Kinh Thánh Ê-sai 55:8 có chép: “Đức Giê-hô-va phán: Ý-tưởng ta chẳng phải ý-tưởng các ngươi.”
Hãy lập lại theo tôi. “Ý-tưởng của chúng ta khác với ý-tưởng của Đức Chúa trời.”
Các bạn có biết tại sao Đức Chúa Trời đã viết câu chuyện này trong Sáng-thế ký đoạn 4 không?
“Các ngươi thờ phượng trước mặt ta cách như vậy thì ta sẽ ngoảnh mặt khỏi sự thờ phượng đó và lạnh lùng không thèm nhìn mặt các ngươi nhưng nếu các ngươi dâng lễ vật cách này thì không những ta không nhận lễ vật của các ngươi mà cũng không nhận các ngươi nữa.” Ngài đã viết điều này trong Kinh Thánh để dạy chúng ta về điều đó. Các bạn nghĩ là Ngài viết điều này cho chúng ta vì Ngài không có gì khác để viết sao?
Thậm chí ngày nay, nhiều người rất thành tâm thờ phượng trước mặt Đức Chúa Trời nhưng chỉ bằng cách riêng của mình. Hầu hết nhiều người suy nghĩ lòng của Đức Chúa Trời giống như lòng của họ, họ nghĩ rằng: “Tôi nghe nói rằng ma quỷ còn lắng nghe tiếng của bạn khi bạn nài xin. Thì tại sao Đức Chúa Trời không lắng nghe như vậy?” Họ tự đắc và nghĩ rằng: “Vì tôi đã thờ phượng Ngài nên chắc chắn Đức Chúa Trời chấp nhận điều đó.” Nhưng những lễ-vật nào mà Đức Chúa Trời không chấp nhận và nhìn một cách lạnh lùng và lễ-vật nào mà Đức Chúa Trời nhận một cách vui lòng? Vậy thì tại sao Ngài đã chấp nhận loại lễ vật này mà từ chối những lễ vật kia? Lý do thật đơn giản. Ngài chỉ nhận những lễ vật mà giống như của A-bên và Ngài không nhận những lễ vật mà giống như của Ca-in. Nếu các bạn dâng những lễ vật mà giống như của Ca-in thì Đức Chúa Trời sẽ không chấp nhận các bạn. Tuy vậy, nếu các bạn dâng lễ vật giống như của A-bên thì Ngài sẽ chấp nhận. Đôi khi tôi hỏi những người khác rằng:
“Tại sao Đức Chúa Trời nhâỉn lễ vật của A-bên mà lại từ chối lễ vật của Ca-in?”
Hầu hết mọi người trả lời rằng:
“Bởi vì A-bên đã dâng lễ vật với tấm lòng thành, còn Ca-in không đặt hết lòng mình khi dâng lễ vật.”
Tôi có thể biết được đức-tin của họ như thế nào khi tôi hỏi họ câu hỏi này. Một người đàn ông nọ đã tụ tập các con trai của nhiều bộ trưởng chính phủ mà đang học ở trường cấp một và hỏi chúng rằng:
“Cha các con làm gì?” Một đứa trẻ trả lời rằng:
“Reng-r…e…n…g… Hãy tránh ra đi!”
“Ồ, cha cháu là bộ trưởng bộ giao thông!” Một đứa trẻ khác hát rằng:
“Bò-con! Bò-con! Bò-con đốm.”
“Cha của cháu chắc là bộ trưởng bộ nông nghiệp!” Một đứa trẻ khác hát:
“Kính-koong, kính-koong, kính-koong từ trường học.”
“Ồ, cha cháu chắc là bộ trưởng bộ giáo dục.”
Đây là câu chuyện vui nhưng nó cho thấy người đàn ông có thể nhận ra cha của những đứa trẻ đang làm gì. Chúng ta có thể biết được lòng của một người bằng cách nghe họ trả lời những câu hỏi. Người tin Đức Chúa Trời mà suy nghĩ: “Tôi không hết lòng đối với Chúa” thì chỉ luôn suy nghĩ là vì Ca-in không hết lòng còn A-bên thì hết lòng nên Đức Chúa Trời chấp nhận A-bên mà không chấp nhận Ca-in. Người mà suy nghĩ: “Vấn đề của tôi là tôi đã phạm quá nhiều tội-lỗi” thì sẽ suy nghĩ rằng mặc dù Ca-in đã dâng lễ-vật nhưng đã phạm tội nên Đức Chúa Trời không chấp nhận Ca-in còn A-bên đã không phạm tội nên Đức Chúa Trời đã chấp nhận.
Tuy nhiên, sự giải thích này là từ Satan mà ra. Trong Kinh Thánh không có xác minh gì về điều này cả. Kinh Thánh không nói rằng Ca-in đã dâng lễ-vật mà không có sự thành tâm cũng không nói là A-bên đã dâng lễ vật với tất cả tấm lòng. Thưa các bạn, chúng ta không nên hiểu Kinh Thánh theo ý riêng mình. Chúng ta giao sự giải thích Kinh Thánh cho ai? Có phải là giao sự giải thích Kinh Thánh cho mục sư Park không? Dạ không phải. Các bạn phải giao sự giải thích Kinh Thánh cho Kinh Thánh. Sự khác nhau giữa lễ vật của A-bên và lễ vật của Ca-in không phải là sự siêng năng, nổ lực, lao động, hay lòng thành tâm. Kinh Thánh đã tả những lễ vật trong những cách rất thú vị. Xin đừng đọc Kinh Thánh qua loa.

“Hãy tìm trong sách Đức Giê-hô-va và đọc lấy: trong những thú vật ấy chẳng một con nào thiếu, chẳng một con nào là không đủ đôi.” (Ê-sai 34:16)

Đó là những gì trong Kinh Thánh Êsai 34:16 nói. Thưa các bạn, nếu các bạn đọc kĩ những lời trong Sáng-thế ký đoạn 4 câu 3. Kinh Thánh nói rằng:

“Vả, cách ít lâu, Ca-in dùng thổ sản làm của lễ dâng cho Đức Giê-hô-va.” (Sáng-thế ký 4:3)

Bên cạnh đó, A-bên đã dâng cái gì?

“A-bên cũng dâng chiên đầu lòng trong bầy mình cùng mỡ nó.” (Sáng-thế ký 4:4)

Chúng ta có thể phát hiện ra một điều gì đó gây lúng túng ở đây. Nếu Kinh Thánh tả lễ vật của Ca-in là những thổ sản của đất thì Kinh Thánh cũng đã tả lễ vật của A-bên đơn giản là những con vật. Nhưng Kinh Thánh đã mô tả lễ vật của A-bên là “chiên đầu lòng cùng mỡ nó” thì Kinh Thánh cũng nên tả lễ vật của Ca-in không phải chỉ là thổ sản của đất. Thí dụ: “Anh đã mang bắp cải, bí đỏ, và cà rốt…” cụ thể là ghi tên của các vật mà anh đã dâng từ thổ sản. Thế nhưng Kinh Thánh đã cố ý nêu một bên lễ vật là “chiên đầu lòng cùng mỡ nó” và lễ vật kia là “thổ sản.” Chúng ta cần để ý về điều này.
Đức Chúa Trời đã lấy bụi đất và nắn lên xác-thịt khi Ngài tạo nên con người. Cho nên khi Đức Chúa Trời tỏ ra xác-thịt của chúng ta và những điều thuộc xác-thịt chúng ta ở trong Kinh Thánh thì mô tả bằng đất hay bụi đất. Kinh Thánh Truyền-đạo đoạn 12:6 “vò vỡ ra bên suối…” Đây là đang nói về xác-thịt của chúng ta.
Trong II Cô-rinh-tô 4:7 nói rằng: “Nhưng chúng tôi đựng của quý này trong chậu bằng đất” là cũng nói về xác-thịt của chúng ta. Do đó, “thổ sản” là từ con người chúng ta mà đến, từ cơ thể chúng ta. Hay nói cách khác là những điều đó đến từ xác-thịt chúng ta, từ những nỗ-lực chúng ta, từ suy nghĩ của con người mà ra. Đức Chúa Trời không nhận những nổ-lực của con người hay bất cứ điều gì đến từ con người.
Ngược lại, tại sao Đức Chúa Trời đã nhận lễ vật của A-bên? Con chiên đầu lòng, chiên con là hình bóng Con một của Đức Chúa Trời là Chúa Jêsus Christ. Mỡ là hình bóng của Đức Thánh Linh. Điều đó ý nghĩa là A-bên đã nhờ cậy Chúa Jêsus và Đức Thánh Linh mà đi đến trước mặt Đức Chúa Trời. Chúng ta có hai cách để dâng của lễ cho Đức Chúa Trời. Một cách là dâng lễ vật bằng công-lao và nổ-lực của mình. Cách còn lại là dâng lễ vật nhờ bởi Chúa Jêsus Christ. Đức Chúa Trời không nhận những điều thuộc xác-thịt mà ra dù nó tốt đẹp như thế nào.
Bởi vì Đức Chúa Trời nhận tất cả những điều gì mà đến qua Chúa Jêsus, Ngài không chỉ nhận lễ-vật của A-bên mà Ngài cũng nhận A-bên nữa. Mặt khác, Đức Chúa Trời không chỉ không nhận lễ-vật của Ca-in mà Ngài cũng không chấp nhận Ca-in nữa. Chúng ta đọc câu 4.

“A-bên cũng dâng chiên đầu lòng trong bầy mình cùng mỡ nó. Đức Giê-hô-va đoái xem A-bên và nhận lễ vật của người.” (Sáng-thế ký 4:4)

Kinh thánh nói rằng Đức Chúa Trời đã nhận Abên cùng với lễ vật người và câu 5 nói rằng Đức Chúa Trời chẳng đoái đến Ca-in và lễ vật người. Bởi vì Đức Chúa Trời không thể nhận lễ vật của Ca-in nên Ngài đã không chấp nhận Ca-in. Và bởi vì Ngài đã nhận lễ-vật của A-bên nên Ngài đã chấp nhận A-bên.
Thưa các bạn, Ngôi-lời trong câu chuyện này gây một cú sốc đến đời sống tín-ngưỡng của nhiều người ngày nay. Hầu hết những người mà suy nghĩ rằng lòng của Đức Chúa Trời cũng giống lòng của mình thì họ suy nghĩ Đức Chúa Trời sẽ chấp nhận họ nếu họ cố gắng chăm chỉ và làm điều này điều kia. Nên mặc dù những điều gì tốt đẹp sang trọng mà không phải bởi Chúa Jêsus mà ra thì Đức Chúa Trời không chấp nhận điều đó vì Ngài xem những điều đó như dơ-bẩn. Những người mà thờ phượng Đức Chúa Trời phải bằng tâm thần và lẽ thật. Chúa Jêsus phải vào trong chúng ta để chúng ta thờ phượng Ngài bằng tâm thần và lẽ thật. Vì Chúa Jêsus đến trong chúng ta thì chúng ta chắc chắn nhận được sự tha-thứ tội-lỗi và được tái-sanh.
Chúng tôi thấy những người sống trong tín-ngưỡng theo suy nghĩ riêng của mình bởi vì hầu như mọi người không biết nhiều về Kinh Thánh. Họ suy nghĩ rằng Đức Chúa Trời sẽ chấp nhận họ nếu họ làm việc với sự chăm chỉ, nói tiếng lạ và nói tiên tri. Mặc dù nói tiếng lạ nhưng có sự nói tiếng lạ đến từ Đức Chúa Trời và có sự nói tiếng lạ đến từ Satan. Cũng vậy, có sự chăm chỉ đến từ Đức Chúa Trời và cũng có sự chăm chỉ đến từ Satan. Có những nổ lực đến từ Đức Chúa Trời và có những nổ lực đến từ Satan.
Ca-in đã làm của lễ. Ca-in đã dâng tấm lòng thành của mình cho Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời không thể nhận thổ-sản của đất mà đến từ con người. Vì vậy, các bạn phải nhận được sự tha-thứ tội-lỗi và các bạn phải nhận Chúa Jêsus vào trong lòng mình thì các bạn mới có thể đi đến trước mặt Đức Chúa Trời. Sau đó Đức Chúa Trời mới có thể chấp nhận các bạn.
Ngày nay, vì nhiều người không biết bí mật quý báu này nên cố gắng làm mà không làm được nên bị thất vọng và sụp đổ. Qua nhiều năm, tôi đã đến nhiều nhà tù để rao giảng Tin-lành. Thật ngạc nhiên, 70 phần trăm tội nhân ở đó là người đã từng đến nhà thờ. Họ là những người đã tin Chúa và đi nhà thờ chăm chỉ. Thế thì, làm sao kết cuộc họ đã ở trong nhà tù? Đức Chúa Trời đã để họ phạm tội tự nhiên như vậy bởi vì Đức Chúa Trời không thể chấp nhận đức-tin của họ.
Thưa các bạn, tại sao lòng các bạn cứ đắm-chìm trong sự sụp-đổ và tuyệt-vọng? Đức Chúa Trời không thể chấp nhận lời cầu nguyện, sự thờ phượng và lễ vật mà các bạn dâng cho nếu tội-lỗi của các bạn không được rửa sạch và các bạn không nhận Chúa Jêsus vào trong lòng mình. Một số người thờ phượng bằng tình cảm của mình, bằng cảm giác của mình, và bằng cảm xúc nồng-nhiệt nhưng Đức Chúa Trời nói: “Ta không chấp nhận điều đó đâu.” Tôi đang nói cho các bạn rằng các bạn phải thật sự được tái-sanh. Ngày nay, thế gian này rất cần những tôi tớ của Đức Chúa Trời để làm chứng về lẽ thật của sự tái-sanh này.
Cách đây đã lâu, vua xứ Ê-díp-tô, Pha-ra-ôn, đã có một giấc chiêm bao. Đó là giấc chiêm bao mà quyết định người Ê-díp-tô sẽ sống hay chết. Không có người nào trong các pháp-sư và các thuật-sĩ của Pha-ra-ôn có thể giải thích về giấc chiêm bao đó cả. Họ đã biết rất nhiều về cách đương đầu với những nan đề như là việc kiềm chế lũ lụt ở sông Nin, những vấn đề chính trị hoặc những vấn đề về quân sự nhưng họ đã không thể giải thích về giấc chiêm bao đó. Cũng vậy, ngày nay nhiều người hay nói về thần học hoặc hay bố thí, giúp đỡ người khác nhưng họ không thể nói về cách làm sao nhận được sự tha-thứ tội-lỗi mà người ta rất cần phải biết. Có rất nhiều người đang đi lang-thang quanh-quẩn và than-khóc vì tội-lỗi mình.
Các bạn thân mến! Tôi mong muốn rằng các bạn hãy mở mắt mình ra. Mở lòng mình và chấp nhận Ngôi-lời của Đức Chúa Trời. Mắt của các bạn phải mở hướng về bí-mật quý báu này của Đức Chúa Trời và hướng về ý muốn của Ngài. Nếu các bạn nhận được sự tha-thứ tội-lỗi và được tái-sanh bằng cách tiếp đón Chúa Jêsus Christ vào lòng mình thì mặc dù các bạn vừa đi trên đường vừa cầu nguyện thì Đức Chúa Trời cũng nhậm lời cầu nguyện các bạn và dù đang ngồi trong nhà vệ sinh mà cầu nguyện thì Đức Chúa Trời cũng nghe. Nếu các bạn được sanh-lại thì Đức Chúa Trời sẽ chấp nhận đời sống các bạn. Đức Thánh Linh sẽ dẫn dắt các bạn nhưng nếu các bạn không được sanh-lại thì không có điều gì mà Đức Chúa Trời có thể chấp nhận từ nơi các bạn. Vì vậy, có rất nhiều người bị lừa gạt trong suy nghĩ rằng đức tin tự đắc là đức tin tốt.
Chúng ta phải đặt sang một bên tất cả mọi điều và trước hết phải nhận sự tha-thứ tội-lỗi qua Tin-lành thật để lòng mình được buông-tha và được tái-sanh. Vì vậy, chúng ta phải gặp tôi tớ thật của Đức Chúa Trời. Làm như vậy thì đức-tin của các bạn sẽ không bị tổn thương và có thể trưởng-thành một cách dạn-dĩ và mạnh-mẽ. Con chiên đầu lòng và mỡ nó mà A-bên đã dâng chính là Chúa Jêsus Christ. Đức ChúaTrời chỉ chấp nhận con của Ngài là Chúa Jêsus Christ. Thưa các bạn, giả sử tôi phải đánh mục sư Choi, đánh nhừ tử vì tôi mạnh hơn ông ta. Các mục sư xung quanh cố cản tôi:
“Này, mục sư ơi, làm sao mà mục sư đánh mục sư Choi vậy? Đừng đánh nữa.”
Tôi đã đánh ông ta đến nỗi gãy một hay hai cái răng và gò má của ông ta bị sưng cả lên. Những người xung quanh khuyên tôi:
“Hãy giải hòa đi.”
“Được rồi. Chúng ta giải hòa nhé? Mục sư Choi, tôi xin lỗi. Chúng ta hãy giải hòa với nhau. Chúng ta cũng hãy xem như không có chuyện gì xảy ra.”
Thế là chúng tôi nắm tay nhau và hòa giải. Tôi nói rất dễ dàng, nhưng rồi chúng tôi có thực sự hòa thuận hay không? Tôi đã đánh ông ta nhừ tử nên hoà thuận được nhưng ông ta bị đánh thì không thể hoà thuận được.
“Làm sao một mục sư lại đánh một người khác nhừ tử được? Mục sư phải trả giá cho việc đó.”
“Này, mục sư Choi. Chúng ta hãy quên chuyện này đi.”
“Được thôi mục sư, tôi sẽ quên.”
Nhưng mục sư Choi không cảm thấy hòa thuận được. Sự hòa thuận thật sự không phải chỉ là qua lời nói mà nó phải được giải quyết ở trong lòng. Lòng mà đã được giải quyết và giải hòa với nhau thì mới là sự hòa thuận thật. Dù tôi xin lỗi mục sư Choi một trăm lần mà không làm giải quyết trong lòng mục sư Choi thì cũng không thể giải hòa với nhau được. Sự hòa thuận thật là tùy thuộc vào lòng đó có mở ra hay không.
“Đức Chúa Trời ôi, con mong là Ngài sẽ tha-thứ tội-lỗi cho con. Con tin Ngài. Amen.” Đó không phải là cách để giải quyết tội-lỗi. “Chúa Jêsus ơi, xin hãy ngự vào trong lòng con. Con xin mở lòng ra và con xin tiếp nhận Chúa Jêsus. Xin hãy ngự vào, ngự vào.” Điều đó cũng không được chấp nhận. Vấn đề cản trở giữa Đức Chúa Trời và chúng ta phải được giải quyết. Lúc đó thì sự hòa giải có thể được thực hiện và mọi sự có thể được hòa thuận.
Mặc dù các bạn biết rằng Chúa Jêsus đã bị đóng đinh chết trên thập tự giá và “tội-lỗi của tôi đã được rửa sạch” nhưng lòng các bạn không được giải quyết ở nơi tội-lỗi thì sự hòa giải thật giữa Đức Chúa Trời và các bạn sẽ không thể thực hiện được. Có một bức tường mà cản trở các bạn với Đức Chúa Trời. Qua lần nhóm này, mặc dù các bạn đã nghe giảng về sự tha-thứ tội-lỗi nhưng nếu lòng của các bạn chưa được buông tha khỏi tội-lỗi một cách rõ ràng thì các bạn phải xem xét lại lòng mình một lần. Giả sử, tôi đang giảng bài ở trường Đại học về triết học, toán học, hay Anh văn và các bạn là sinh viên đang nghe tôi giảng. Tôi có ăn cắp hay giết người thì tôi vẫn có thể giảng bài được. Vậy thì các bạn sẽ nói: “Giáo sư đó là một người kinh-khủng nhưng dạy giỏi.” Và các bạn sẽ nhận những gì tôi dạy. Nhưng thưa các bạn, tôi là một mục sư, không phải là một giáo sư giảng về toán hay Anh văn thì khi tôi giảng các bạn sẽ nói đó là một người kinh khủng! Chẳng nhận được gì hết. Bởi vì kiến-thức thì vào trong đầu óc nhưng đức-tin thì vào ở trong lòng. Những lòng mà nói rằng: Ông ta là một người kinh khủng. Ông ta là một tên trộm. Ông này đáng bị sấm sét đánh chết. Nhưng bài học A+B = C vẫn có thể được chấp nhận. Bởi vì đức-tin thì vào trong lòng. Nếu các bạn nói mục sư đó là một người dối trá thì những lời nói của mục sư đó chỉ có thể vào trong đầu óc các bạn nhưng không thể vào lòng các bạn được. Tín-ngưỡng không phải bởi sự học vấn mà là có ở trong lòng. Đó là nhận được sự tha-thứ tội-lỗi và được cứu-rỗi. Cho nên các bạn phải gặp tôi tớ thật của Đức Chúa Trời nếu các bạn sống thật ở trong Chúa cách đẹp lòng Ngài không, phải là một mục sư mà nói về những triết học hay nhấn mạnh về những bài học đạo-đức và luật-pháp nhưng tôi tớ của Đức Chúa Trời là nói về cách để tội-lỗi được tha-thứ thì lòng các bạn có thể giải-thoát khỏi tội-lỗi. Chỉ có một loại tôi tớ có thể liên kết giữa bạn với Đức Chúa Trời. Thỉnh thoảng tôi có gặp những tôi-tớ của Đức Chúa Trời giống như vậy. Thưa các bạn, tôi mong muốn là có nhiều mục sư như vậy được dấy lên từ nơi Busan này. Ở mỗi Hội Thánh, các mục sư đã nói về sự tha-thứ tội-lỗi, hơn nữa những linh hồn mà thực sự nhận được sự tha-thứ tội-lỗi thì đã vui mừng trong nước mắt nên cứ tiếp tục thêm vào Hội Thánh.
Các bạn thân mến, Đức Chúa Trời đã lạnh lùng từ chối lễ vật của Ca-in. Nếu các bạn không được sanh lại qua Chúa Jêsus thì Đức Chúa Trời nói trong Kinh Thánh Ê-sai đoạn 1 là Ngài sẽ không chấp nhận các bạn.

“Đức Giê-hô-va phán: Muôn-vàn của-lễ các ngươi nào có can-hệ gì đến ta? Ta đã chán-chê của-lễ thiêu bằng chiên đực và mỡ của bò con mập. Ta chẳng đẹp lòng về huyết của bò đực, chiên con và dê đực đâu. Khi các ngươi đến chầu trước mặt ta, ai khiến các ngươi giày-đạp hành lang ta? Thôi, đừng dâng của-lễ chay vo-ích cho ta nữa! Ta gớm-ghét mùi hương, ngày trăng mới, ngày sa-bát cùng sự rao-nhóm hội; ta chẳng khứng chịu tội-ác hội-hiệp nơi lễ trọng-thể. Thật, lòng ta ghét những ngày trăng mới và kỳ lễ các ngươi, là nặng-nề cho ta, ta lấy làm mệt mà gánh lấy. Vậy nên, khi các ngươi giơ tay, thì ta che mắt khỏi các ngươi. Khi các ngươi cầu-nguyện rườm-rà, ta chẳng thèm nghe. Tay các ngươi đầy những máu.” (Ê-sai 1:11-15)

Kinh Thánh nói rằng vì tay của các bạn đẫm đầy máu và rất dơ bẩn bởi tội-lỗi nên trước hết các bạn phải được rửa sạch trắng như tuyết rồi mới dâng lễ-vật, dâng lời cầu nguyện, dâng sự thờ phượng lên Đức Chúa Trời.
Thưa các bạn, chúng ta hãy thờ phượng theo lời của Đức Chúa Trời, không phải theo lòng của các bạn hay cảm giác của các bạn và đừng dâng hiến hay dâng lễ-vật theo ý các bạn muốn. Tôi mong muốn rằng các bạn sẽ dâng lễ-vật hay dâng hiến theo như lời của Đức Chúa Trời.
Các bạn thân mến, chẳng lâu nữa chúng ta sẽ đứng trước mặt Chúa Jêsus. Một số người sẽ đứng trong niềm-vui. Một số khác sẽ đứng trong sợ-hãi.
Có một số điều mà tôi muốn nói với những người trong số các bạn mà đã nhận được sự tha-thứ tội-lỗi tuần này. Điều thứ nhất là sự chuộc tội chúng ta không phải qua nỗ-lực hay việc-làm của chúng ta. Sự tha-thứ tội-lỗi không hề liên quan đến việc-làm của bản thân chúng ta. Các bạn vâng phục tốt theo lời của Đức Chúa Trời hay không, các bạn cầu nguyện nhiều như thế nào, đi rao giảng nhiều hay không, dâng hiến nhiều hay không, điều đó không có can hệ gì cả. Sự tha-thứ tội-lỗi chỉ liên quan đến dòng huyết trên thập tự giá của Chúa Jêsus mà thôi. Thế nhưng, quỷ Satan biết chúng ta là những con người có nhiều nhược điểm, sai lầm và không trọn vẹn nên nó trói buộc việc làm của chúng ta và làm kiệt quệ sức lực của chúng ta. Khi các bạn làm điều gì sai thì nó lừa gạt các bạn rằng: “Kìa, làm sao mà mày nói là mày được cứu? Mày có thực sự nhận được sự tha-thứ tội-lỗi không? Không, mày chưa được tái-sanh đâu.” Mỗi lần như vậy, các bạn hãy nói: “Hỡi Satan, hãy lui ra khỏi ta. Ta không được cứu bởi vì ta quá tốt đẹp. Nhưng bởi huyết báu của Chúa Jêsus mà ta nhận được đấy.” Khi Chúa Jêsus cứu các bạn, Ngài đã không phải cứu các bạn vì các bạn không phạm tội. Ngài đã cứu các bạn vì Ngài biết các bạn đã rơi vào tội-lỗi. Vì vậy, sự cứu rỗi mà các bạn nhận được không hề liên quan đến việc làm của các bạn.
Chúng ta hãy tìm câu Kinh Thánh khác. Chúng ta hãy cùng đọc trong Ê-phê-sô đoạn 3 câu 12. “Trong Ngài chúng ta nhờ đức-tin đến Ngài mà được tự-do đến gần Đức Chúa Trời cách dạn-dĩ.” Đó là những gì Kinh Thánh nói, đúng không? Không đúng hả? Thế thì, chúng ta hãy đọc lại.
“Trong Ngài chúng ta có sự dạn dĩ và sự tự do đi đến nơi Đức Chúa Trời bởi vì chúng ta không chỉ tin Ngài mà cũng sống không bị cáo trách đối với lương tâm.” Có đúng vậy không? Không phải. Các bạn đến trước mặt Đức Chúa Trời hoàn toàn không liên quan đến việc làm của các bạn cả. Với việc làm của các bạn thì các bạn không thể đến với Ngài được. Có lúc các bạn làm tốt nhưng thường các bạn làm xấu nhiều hơn. Có lúc các bạn làm điều lành nhưng thường các bạn làm điều ác nhiều hơn. Nên các bạn cứ suy nghĩ về việc làm của các bạn thì các bạn không thể nào đến trước mặt Đức Chúa Trời được. Chỉ có một con đường để các bạn dạn dĩ đi đến trước mặt Đức Chúa Trời là tin vào dòng huyết quý báu Chúa Jêsus Christ mà thôi.
“Cha Đức Chúa Trời ơi, xin đừng nhìn vào con, hãy nhìn vào Chúa Jêsus mà chấp nhận con.”
Các bạn có thể đi đến Đức Chúa Trời với sự tin cậy như vậy bất cứ lúc nào. Mặc dù các bạn thì thiếu nhưng vì Chúa Jêsus là trọn vẹn nên các bạn phải nương dựa hoàn toàn vào Chúa Jêsus.
Điều thứ hai là nếu các bạn nhận được sự tha-thứ tội-lỗi thì các bạn là con cái của Đức Chúa Trời. Mặc dù các bạn là con cái của Đức Chúa Trời nhưng thế gian không nhìn nhận các bạn dù vậy các bạn không cần phải chùn bước lại.
Ngày xưa, có một thủ tướng chính phủ đã sống ở kia. Chắc là các bạn đang nói rằng mục sư Park chỉ biết về thủ tướng nên bao giờ ông ta cũng nói bao nhiêu đó. Thủ tướng này cũng không có con. Cuối cùng, khi gần về già ông mới có một đứa con. Đó là con gái. Ông đã rất cô đơn khi không có con nên ông rất vui lòng khi có đứa con gái này. Con bé khi nó lớn lên rất dễ thương. Tóm lại là thủ tướng đó luôn quấn quít bên con gái này. Con bé ấy rất thông minh và chơi đàn tranh rất giỏi. Cô bé cũng có năng khiếu làm thơ. Thời xưa, các cha mẹ thường gả con gái mình sớm. Ngày nay, nhiều người đến 20 hoặc 30 mà vẫn chưa lập gia đình, nhưng ngày xưa, người ta cố bắt con mình lập gia đình khi vừa thôi bú sữa. Con gái của thủ tướng cũng được nhiều người mai mối. Vì thủ tướng không có con trai nên ông muốn làm xui gia cho con gái mình. Cuối cùng, cô ta đã đính hôn với con trai út của ông cảnh sát trưởng trong một làng ở tỉnh Kyungsang. Trong ngày cưới, con gái của thủ tướng đã khóc vì không thể nào quên được tình yêu thương của cha mình.
Vào thời đó, người ta hay có chế độ đại gia đình. Con trai của cảnh sát trưởng đó có năm anh em, tất cả đã lập gia đình và mọi người trong gia đình đã sống chung với nhau. Con gái của thủ tướng đã trở thành một nàng dâu trẻ nhất.
Một ngày kia, đó là ngày sinh nhật của cha chồng cô ấy. Bởi vì ông ta là một cảnh sát trưởng của thị trấn nên tất cả các con dâu và họ hàng đã tổ chức một buổi tiệc lớn. Bố mẹ của tất cả các con dâu đã được mời đang trên đường đến đó. Cha của con dâu thứ nhất đã đến và cha của con thứ hai, thứ ba, và thứ tư đang đến. Tất cả họ đều có địa vị cao nên việc đến của họ rất trịnh trọng. Họ đã vào làng với những lính canh, cờ bay phấp phới và tiếng kèn thổi lên. Đó là cách bên con dâu thứ nhất đến, rồi bên con dâu thứ hai v.v… Bấy giờ buổi tiệc đã bắt đầu nhưng thủ tướng thì không thấy đâu cả. Sau khi con gái của ông đã gả vào gia đình này, cô ta nhớ cha mình rất nhiều nhưng về sau đặc biệt hôm ấy họ đã không có gọi điện thoại hay gọi taxi gì cả. Cô ta đã chờ cha rất lâu… Các cô chị dâu tất cả đều vui mừng và hồi hộp khi cha ruột của mình đến, nhưng thủ tướng vẫn chưa đến.
Khi buổi tiệc sắp kết thúc thì họ đã nhận được một tin là thủ tướng, cha của con dâu út đang đến. Thế là tất cả họ đã đi ra ngoài. Thực vậy, thủ tướng đang đến nhưng ông đang cỡi trên một con lừa mà tiếng nó rất nhỏ và không có người hầu. Dù sao đi nữa thì đứa con gái đã rất hạnh phúc khi thấy cha và không biết làm gì cả. Nếu ngày đó mà là ngày hôm nay thì cô ta đã chạy đến và kêu lên “Cha ơi!” rồi ôm chặt lấy cha. Nhưng vì cách đây đã lâu rồi nên cô ta không thể làm như vậy được mà vừa làm việc vừa nhìn cha. Cô ta đã mất cả tấm lòng của mình vì chỉ nhìn cha bằng khóe mắt. Mặc dù lần đầu tiên gặp lại cha đã lâu mà cô ta đã không thể nói một cách tự do cho cha về những điều gì đã xảy ra. Thậm chí buổi tiệc đã kết thúc và cô ta đã phải nói lời chào cha.
Thế rồi có những sự việc đã xảy ra. Đó là bốn cô chị dâu đã nói rằng:
“Cha của cô là thủ tướng mà cô có thấy cách ông ta ăn mặc không? Ông ta trông lôi thôi quá.”
Họ bắt đầu khinh thường và nói nhục cô con dâu trẻ nhất. Cô ta đã chiến tranh trong đời sống hôn nhân một cách khó khăn và đau khổ còn hơn là sanh con. Tuy nhiên, cô ta đã không thể nói cho chồng mình biết tất cả mọi việc đã xảy ra như các bạn ngày nay. Vì thế cô ta đã một mình đau khổ. Cô ấy đã buồn phiền trong lòng rằng “Tại sao cha mình đã đi đến như vậy nhỉ?” Thế rồi cô tự an ủi mình “Ôi, ổn thôi. Lần sau cha đến sẽ khác.”
Sau đó có một bữa tiệc khác và một lần nữa tất cả xui gia đều đã đến. Những người khác đã đến với lá cờ phấp phới của họ. Những lính ở phía trước với tiếng kèn trumpét tạo nên một đường đi rất trang nghiêm nhưng lại một lần nữa thủ tướng này lại đến trễ và đang cưỡi một con lừa nhỏ “crặc crặc crặc…” Người con gái cảm thấy thất vọng về cha mình. Sau buổi tiệc, cô ta nói với cha khi từ giã:
“Cha ơi, con có một yêu cầu.”
“Cái gì?”
“Cha ơi, lần sau cha đến, con muốn cha đến mà có nhiều người theo tạo nên một lối đi trang nghiêm.” Người thủ tường nói:
“Tốt, được thôi.” Rồi ông đã đi về.
Ông ta chỉ nói tất cả là “Tốt, được thôi” mà không có nói thêm điều gì khác nhưng con gái của thủ tướng nói “Lúc đó chúng ta sẽ thấy. Cha tôi là một thủ tướng. Nếu ông ta muốn có một lối vào trang nghiêm, thì cha các chị không sánh kịp với cha của tôi đâu!” Một năm trôi qua một cách chậm chạp và khi ngày tiệc đã gần đến, người con dâu trẻ nhất của thủ tướng đang chờ đợi cha mình đến. Thời gian đã trôi qua nhanh và lặng lẽ. Ngày tiệc cuối cùng đã đến. Từ vài ngày trước thì những người xui gia khác đã bắt đầu đến.
Giống như trước đây, họ đã đến với cờ bay phấp phới, kèn trumpét, sáo thổi và nhiều lính dẫn đầu, cả làng đều trở nên náo động. Những con ngựa đang chạy trên đường nhưng thủ tướng vẫn chưa đến. Đó là ngày tiệc mà trời mưa lâm râm nhưng thủ tướng vẫn chưa đến. Người con gái vẫn tự an ủi mình. “Mình đã yêu cầu cha đàng hoàng rồi, và cha thương mình lắm. Không có điều gì mà cha không làm cho mình cả. Mình đoán cha đến trễ vì cha đang chuẩn bị một lối vào rất lớn và trang nghiêm.” Bấy giờ mặt trời đang lặn và mọi người đang la hét bên ngoài.
“Thủ tướng đang đến!”
Khi cô ta nhìn từ xa, cha, người cô ta đã chờ đợi quá lâu đang ngồi trên một con lừa phi nhanh tiếng kêu nhỏ crặc crặc… như trước đây và thậm chí ông còn bị mưa ướt như con chuột rơi vào thùng nước và trông rất lôi thôi. Bỗng nhiên cô ta hết sức choáng váng và muốn ngất xỉu. Các chị dâu ngạc nhiên quá lập tức đưa cô vào phòng kín rồi đặt nằm xuống. Thủ tướng đã đi vào lầu chính của phòng lau khuôn mặt bị ướt của mình bằng chiếc khăn tay và nói về điều này điều kia. Tất nhiên, ông tò mò nhiều nhất về con gái ông. Khi ông đang nói chuyện với những người xui gia, ông tự nghĩ: “Khi nào con bé sẽ đi ra? Khi nào nó sẽ đi ra?” Nhưng người con gái đó đã không đi ra ngoài. “E hèm!” Cổ họng ông đã thông và không khí đã bắt đầu thay đổi.
“Có chuyện gì xấu đã xảy ra à? Điều gì đã làm bối rối cho cô ấy? Cha ruột của nó ở đây mà tại sao nó không đi ra? A! Năm ngoái khi tôi đi về, nó đã yêu cầu tôi một việc hay, nhưng sao nó không bảo tôi làm một lối vào trang nghiêm khi tôi đến nhỉ?”
Thế rồi, ông nhìn thấy tất cả những người xui gia đến ăn mặc rất sang trọng, gắn huy chương rất sặc sỡ. “E hèm!” Ông lại làm thông cổ lần nữa. Mọi người trở nên yên lặng như thể một đứa trẻ đang bị bắt.
“Các anh có thể ngồi một chỗ với tôi như vầy được à? Theo luập-pháp của nhà nước, các anh không được phép làm như vậy.”
Khi ông ta nói lớn tiếng một lần, thì tất cả những xui gia và họ hàng mà đang ngồi một chỗ với thủ tướng đã bắt đầu lê bước và chậm rãi đi ra ngoài sân, đầu cúi xuống và bắt đầu quỳ gối xuống. Hơn nữa, trời đã bắt đầu mưa ào ạt. Ông già mà cưỡi trên con lừa nhỏ, chỉ còn một mình ngồi trên hành lang. Khi những người dân ở làng đó thấy những chuyện đã xảy ra cho những người lớn có địa vị mà đang cúi đầu, nằm sấp ngoài sân, thì họ bắt đầu nói chuyện phiếm với nhau. Bấy giờ có một sự việc gấp trong nhà bếp. Đó là những cô con dâu khác mà đã từng khinh rẻ cô con dâu nhỏ nhất, lúc bấy giờ có thể dám làm gì trước mặt vị thủ tướng đó à?
“Ôi, không. Chúng tôi thật lo lắng quá. Em dâu nhỏ nhất của chúng ta đâu rồi? Nó ở đâu?”
“Tôi nghe là nó đang nằm ở một nơi nào đó bởi vì nó bị đau.”
“Thật không? Chúng ta hãy đi đến chỗ nó đi.” Tất cả các cô chị dâu đã đi đến xem em dâu của họ khi cô đang nằm đau ở đó.
“Này, em có mệt lắm không? Chúng ta hãy đi kiếm một ít nước mật ong cho cô ấy.” Họ đang lo xoa bóp và lau chùi cho cô ta thì căn phòng đã trở nên rộn cả lên.
“Em nên nghỉ sớm hơn. Chà, chị nghĩ là các chị đã bắt em làm việc quá nhọc. Ôi, một người như em, đã lớn lên một cách rất sung sướng.”
Bấy giờ con gái của thủ tướng đã không nói gì về những việc đã xảy ra bởi vì người chị dâu mà thường hay la rầy cô bỗng trở nên rất nhiệt tình. Con gái của thủ tướng cứ nằm đó mà cô ta cứ xin lỗi nên cô nói:
“Không đâu các chị. Không sao đâu.”
Cô đã mở cửa đi ra ngoài và đã nhìn thấy những điều gì đã đang diễn ra. Tất nhiên, cô không nói ra nhưng cô không thể giấu được niềm vui của sự chiến thắng. Từ bên trong cô đã có một nụ cười tự mãn. Làm sao cô có thể cười lớn “Ha ha ha…” được. Cô đã hành động như thể là cô đã không biết gì. Cô đi xuống nhà bếp, đốt củi và thử làm việc. Một chị dâu đến và nói với cô:
“Em biết đó, cha chị bị viêm cuống phổi, và ông cứ bị cảm mỗi khi thời tiết lạnh. Làm sao chị có thể để ông ấy trong mưa như vậy được?” Nói thế, rồi chị ta nấc nghẹn. Một chị dâu khác đến và nói rằng:
“Em biết không, cha chị cứ hay bị bệnh đau dây thần kinh một cách kinh khủng.”
“Các chị ơi, đừng lo. Em sẽ nói với cha em.”
“A, thật là hay. Nếu em làm vậy thì rất là cảm ơn.”
Vì thế, con gái của thủ tướng đi chải tóc, xếp áo lại gọn gàng rồi đi ra ngoài nơi cha mình. Cô cúi đầu chào cha và nói:
“Cha ơi, chắc là rất vất vả khi trên đường đến đây. Mẹ bình yên hả cha?”
“À, mẹ rất khỏe.” Khi thủ tướng thấy con gái mình đến, ông suy nghĩ: “Ừ, trông nó thoải mái đấy.” Rồi bấy giờ ông đã biết con gái mình nói gì, phải không?
“Bây giờ con đi đi. Mặc dù cha là cha của con nhưng con cũng phải để ý đến cách cư xử của mình.”
“Ôi! Cha… Ôi! Cha…”
“Cha bảo con đi đi.”
“Không, điều con đang nói… Cha ơi, cha của các chị dâu con đang bị ướt mưa.” Ngay lúc đó, thì thủ tướng mới nhìn ra ngoài sân.
“Ồ, những người vẫn còn đang bị ướt trong mưa à? Vậy sao không vào trong đây đi?”
“Ôi, ơn quý của Ngài.”
Rồi tất cả họ đi vào bên trong tránh khỏi mưa. Đó là cách con gái của một thủ tướng. Vậy thì chúng ta là con cái của Đức Chúa Trời là Đấng đã tạo ra muôn vật trong vũ trụ. Đừng lằm-bằm hay đổ-lỗi thế gian bởi vì thế gian không nhận biết các bạn. Các bạn có biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu chỉ một lời đến từ môi miệng của Cha chúng ta? Thưa các bạn, Mục Sư Park trông thấp và trông ông ta không có gì quan trọng. Thực vậy, trông tôi như vậy nhưng các bạn có biết không? Tôi là một hoàng tử! Tôi là con của Đức Chúa Trời, là tôi-tớ của Ngài. Làm sao các bạn có thể so sánh tôi với con gái của một thủ tướng tầm thường? Tôi đã trở thành con trai của Đức Chúa Trời một cách nhưng không. Thế gian không biết điều này. Thưa các bạn, thị trưởng của Busan cũng không, cảnh sát trưởng đến cũng không chào đón tôi khi tôi đến Busan. Bởi vì đó, tôi sẽ đến đại sảnh thành phố và nói với thị trưởng: “Này, đây là tôi tớ của Đức Chúa Trời, tại sao không tiếp đón tôi?” Tôi nói như vậy thì họ sẽ gọi điện thoại ngay cho bệnh viện tâm thần, nên làm sao tôi nói được nữa, không thể làm như vậy được. Thưa các bạn, thế giới không thể nhìn nhận chúng ta, nhưng chúng ta không cần phải chùn bước gì hết. Chúng ta đã nhận được sự tha-thứ tội-lỗi và được tái-sanh qua dòng huyết báu của Chúa Jêsus Christ, là con trai của Đức Chúa Trời và chúng ta đã trở thành con cái của Đức Chúa Trời. Halêlugia! Thưa các bạn! Thế thì sao nếu chúng ta nghèo? Nếu chúng ta đau-đớn, bị khinh-miệt bởi những người khác hay bị đánh? Nếu chúng ta bị chửi mắng thì sao? Cha chúng ta sẽ nhìn thấy điều đó và cho phép điều đó xảy ra ở một thời điểm nào đó nhưng liệu điều đó có trở nên quá trầm trọng không nếu Ngài phán một tiếng.
“Bởi luật-pháp nhà nước ngươi không được phép làm điều đó!” Các bạn có biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu Ngài nói giống như vậy?
Chúng ta được phước biết bao! Làm sao chúng ta có thể trở thành tôi-tớ của Đức Chúa Trời và làm con cái của Ngài? Khi chúng ta sống ở thế gian thì như thế này. Tôi không thể nói cho các bạn mọi chi tiết về điều đó. Thậm chí nếu tôi nói cho các bạn hết thì các bạn cũng không thể hiểu. Hơn nữa, các bạn sẽ nói là tôi bị điên. Chúa đã ban cho chúng ta ơn-phước thật lạ-lùng. Chúng ta hãy cùng ca ngợi Chúa. Bởi vì Chúa Jêsus yêu chúng ta, Ngài đã đổ huyết mình ra chịu đau-đớn và đã chết vì chúng ta.

“Rộng hơn đại dương
Cao hơn bầu trời
Sâu hơn biển cả.
Tình yêu của Chúa tôi.
Tôi là con của Ngài.
Mặc dù tôi hèn-hạ,
Ngài đã yêu-thương tôi.

Thưa các bạn! Mặc dầu chúng ta không có một ngôi nhà lộng-lẫy trên đất này và cũng không có nhiều tài sản quý trên đất này, nhưng chúng ta không phải là người của đất này. Tất cả những vật quý của chúng ta là ở trên nước Thiên-đàng kia. Những người mà đã nhận được sự tha-thứ tội-lỗi có thể tự do vào nước ấy một cách nhưng không.
Các công dân ở Busan thân mến! Tôi mong rằng các bạn sẽ nhận được sự tha-thứ tội-lỗi qua huyết của Chúa Jêsus Christ và sống một đời sống tái-sanh bởi Ngài. Tôi thật cảm tạ Ngài vì mặc dầu buổi nhóm thì ngắn, nhưng Đức Chúa Trời đã ban cho tôi có cơ hội để nói chuyện với các bạn. Tôi cảm thấy trong lòng buồn nhiều. Cảm thấy như là chúng ta vừa mới bắt đầu, nhưng đã đến lúc chúng ta kết thúc! Thưa các bạn, tôi sắp rời khỏi Busan nhưng Đức Chúa Trời sẽ không rời những người mà đã nhận được sự tha-thứ tội-lỗi trong tuần này. Ngài sẽ ở với các bạn mãi mãi. Tôi mong rằng các bạn sẽ trình tất cả những sự việc của mình lên cho Chúa.
Chúng ta hãy yên lặng cúi đầu và nhắm mắt lại. Tôi sẽ kết thúc bài giảng sớm một chút, thực sự không có ai trong số các bạn mà vẫn chưa được giải quyết những vấn đề thuộc linh của mình. Nếu ai trong các bạn có những hoài nghi trong lòng hay có những khía cạnh các bạn không hiểu tôi mong là các bạn sẽ thông công riêng với những tôi-tớ của Đức Chúa Trời.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *